Khánh Lê, Khánh Sơn, Mimosa, Prenn, Bảo Lộc, Ngoạn Mục lần lượt xuất hiện như những vết thương trên bản đồ địa hình.
Vì sao sạt lở và sụt lún đèo tăng mạnh, không còn là tai biến rải rác mà thành chuỗi sự cố nối tiếp?
Hôm rồi, tôi cùng hai kỹ sư đồng nghiệp tại công ty tư vấn hạ tầng ở Tokyo phân tích hàng chục ảnh hiện trường sạt lở ở các đèo Khánh Lê, Khánh Sơn, Mimosa, đối chiếu vị trí và hình thái tuyến, thảo luận cả trên góc nhìn quy hoạch vùng lẫn địa kỹ thuật và rút ra một số nhận định sơ bộ.
Nếu chấm vị trí các điểm sạt lở đèo trên bản đồ, ta tìm được quy luật gì? Lấy Đà Lạt cao 1.500 m làm tâm, điều gây chú ý là phần lớn cung đường núi chủ đạo từ các vùng thấp ven biển hướng Tây Bắc (Nha Trang), Đông Nam (TP HCM) và Tây Nam (Phan Rang) đi lên cao nguyên Lâm Viên xuất hiện lở đèo. Hầu hết các đèo đều ở độ cao trên 1000 m, nơi taluy âm dốc, taluy dương cao và đường bêtông bị kẹp giữa hai sườn núi.
Đây là hệ quả của địa hình dốc kết hợp quy hoạch trục giao thông tập trung: mọi dòng người, hàng hóa, du lịch đều dồn lên một số trục chính. Khi mưa lớn kéo dài, nước từ cao nguyên dốc xuống tỏa trên các sườn, hội tụ tại các đèo, tăng áp lực thủy lực và kích hoạt sạt lở kiểu domino. Hiện tượng này giải thích tại sao cùng lúc hàng loạt đèo sạt lở nghiêm trọng.
Nguyên nhân sạt lở có thể gom thành hai khối.
Đầu tiên là từ thiên nhiên. Khí hậu cực đoan vượt ngưỡng chịu tải là nguyên nhân phổ biến nhất. Báo cáo IPCC (AR6) của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu Liên Hiệp Quốc và thực tế hiện trường chỉ ra: tần suất, cường độ mưa cực đoan ngày càng tăng. Mưa lớn bão hòa đất đá nhanh; khi đất mất lực kháng cắt, mặt trượt có thể kích hoạt chỉ trong vài giờ. Thêm vào đó là đặc thù địa hình: núi dốc, địa chất yếu, nhiều đất đỏ bazan, gặp nước dễ nứt trượt và sụt lún. Sông ngắn, lưu vực hẹp, độ dốc lớn. Trên nền này, các vết cắt, lớp phong hóa và nứt nhỏ tích tụ qua nhiều mùa mưa. Những nơi đã bị cắt chân hay mất lớp rễ, chỉ một lượng nước nhỏ cũng làm hệ số an toàn giảm nhanh.
Mô hình cảnh báo hiện đại ở Nhật Bản và châu Âu nhấn mạnh: rủi ro sạt lở tích lũy theo thời gian, không xuất hiện chỉ trong khoảnh khắc.
Ngay cả cường quốc chống thiên tai Nhật Bản cũng không "miễn dịch". Trận mưa kỷ lục miền tây hè 2018 gây chuỗi sạt lở đèo và ngập lụt nghiêm trọng. Nhưng Nhật giảm rủi ro hệ thống bằng tổ hợp giải pháp: bảo tồn rừng nguyên sinh, kỹ thuật chống sườn và "sabo" (chống sạt lở) nổi tiếng, bảo trì nghiêm ngặt và giám sát liên tục bằng công nghệ. Ở Việt Nam, nhiều vùng đèo đã mất lớp rừng nguyên sinh, taluy bị cắt ồ ạt, tiêu chuẩn thi công và bảo trì chưa đồng bộ, nên cùng một lượng mưa có thể gây thiệt hại khác hẳn.
Khối thứ hai đến từ tác động con người. Tác động này nguy hiểm không kém, thậm chí làm khí hậu cực đoan thêm tai hại. Suy giảm rừng phòng hộ là nguy cơ hàng đầu: mất "tấm khiên" giữ nước mưa và ổn định sườn núi. Rừng nguyên sinh đa tầng, đa loài làm chậm dòng chảy, phân tán năng lượng mưa và tăng độ bám của đất. Khi lớp này mỏng đi, nước không còn thấm chậm mà đổ nhanh, thung lũng chân đèo trở thành những chậu hứng khổng lồ, thúc đẩy trượt đất. Rừng trồng mới thường thưa và đơn loài như keo, thông, bạch đàn, khả năng giữ nước yếu. Việc phá rừng nguyên sinh trồng cây công nghiệp như cà phê hay cao su khiến năng lực hãm nước gần như biến mất, dù số liệu thống kê có thể "biện minh" rừng được trồng bù một phần.
Tận khai thác thiên nhiên và quản trị hạ tầng yếu kém là nguyên nhân bổ sung. Quan sát sạt lở đèo Khánh Lê cho thấy mặt trượt khởi phát từ đỉnh, ăn sâu vào lớp phong hóa rồi kéo toàn khối xuống taluy âm, tạo chuỗi đứt gãy. Một số dấu vết khai thác hiện rõ: mở bãi, cắt taluy thẳng đứng, đặt tuyến sát chân sườn, đường khai thác gỗ băm sâu vào rừng núi, đá lớn lở chênh vênh, mặt phủ rừng thấp và đơn loài. Hệ thống thoát nước kém hoặc bị bồi lấp, cộng thêm tải trọng xe và bảo trì chắp vá, càng đẩy khu vực tới ngưỡng phá vỡ.
Nhìn tổng thể, mô-típ lặp lại khá rõ: đường ép sát sườn núi, thoát nước không đủ, thảm thực bì bị xé mảng, xen lẫn hồ chứa lớn nhỏ và thiếu giám sát rủi ro tích lũy. Khi tất cả hội tụ cùng mưa cực đoan, hệ thống dễ dàng sụt vỡ.
Vậy giải pháp cần đi theo hướng nào?
Nhìn từ góc nhìn quy hoạch vùng và kinh nghiệm Nhật Bản, bài học rất rõ: không thể dồn mọi tuyến huyết mạch lên một số đèo. Với các tuyến thường xuyên mưa lớn, đi qua lớp trầm tích dễ trượt hay địa hình quá nguy hiểm (do thế đất hay độ cua lớn), Nhật hạn chế tối đa làm đường đèo và chuyển sang xây các hầm xuyên núi. Ai từng đi Shinkansen hay lái xe qua vùng núi ở Nhật sẽ thấy nhiều đoạn hầm ngắn dài liên tiếp, cho thấy họ đã tránh làm đèo rủi ro. Ở Việt Nam, chi phí làm hầm cao, năng lực thiết kế và thi công hạn chế, nên vẫn phụ thuộc đèo. Nhưng sửa đèo chắp vá cũng tốn kém và không bền, nên việc chuyển dần sang hầm là hướng hợp lý. Những nơi chưa thể làm hầm, Nhật tập trung gia cố sườn, mở hệ thống thoát nước lớn, xây bẫy bùn chân dốc kết hợp với cảnh báo - đóng đường tự động.
Còn từ góc độ địa kỹ thuật, giải pháp mở ra một chuỗi hướng đi liên tục từ cấp cứu, trung hạn đến chiến lược lâu dài.
Bước đầu là giải pháp cứu chữa khẩn cấp: khoanh vùng điểm sạt, dùng cầu vượt đoạn mất ổn định. Đề xuất xây cầu vượt đoạn sạt lở đèo Mimosa của ban quản lý dự án 85 là quyết định đúng hướng. Mặt trượt dài 70 m, sâu 40 m, bóc taluy âm và thân dốc dưới, không thể vá bằng kè và đắp bù. Bỏ đoạn đường mất ổn định, bắc cầu 107 m nắn tuyến, đưa tải trọng ra khỏi lớp phong hóa, khôi phục giao thông an toàn và nhanh nhất. Khánh Lê có chỗ sạt dài tương tự nên có thể áp dụng nếu điều kiện cho phép.
Bước tiếp theo là chuyển từ xử lý điểm sang toàn tuyến và ổn định cả mảng sườn. Một cây cầu chỉ xử lý điểm nóng, trong khi phần núi phía trên - nơi nước ngầm, rãnh tự nhiên và khối phong hóa vẫn hoạt động - có thể trượt tiếp. Giải pháp gồm phá bớt khối mảng sườn núi có nguy cơ trượt sụt cao ở taluy dương, chống đỡ tạm, khoan neo, gia cố taluy âm, xây các đập nhỏ chặn bùn (check-dam) và mở hệ thống thoát nước tạm để cắt dòng hội tụ.
Giải pháp dài hạn là khôi phục rừng phòng hộ, tăng cường giám sát thời gian thực và xây dựng bản đồ nguy cơ rủi ro. Rừng mới tuy không thay thế được rừng nguyên sinh nhưng rất cần thiết. Nên chọn cây bản địa sinh trưởng nhanh và rễ sâu, trồng trên sườn theo cấu trúc xen kẽ cây lớn - nhỏ để tạo tán rộng và bám giữ đất, giảm dòng chảy mặt và lũ. Trồng rừng thí điểm ở Nhật và Hàn Quốc cho thấy sau 3-5 năm, rừng mới đã bắt đầu có năng lực hãm nước. Song song là công bố bản đồ nguy cơ và tăng cường hệ thống cảnh báo mưa - áp lực nước - dịch chuyển đất để chủ động đóng đường.
Xa hơn là tầm nhìn chiến lược "xây lại tốt hơn" (Build Back Better). Đây là cách tiếp cận phòng chống thiên tai chuẩn quốc tế, thay cho việc "xây lại như cũ". Tốt hơn không phải là rải nhựa dày hơn hay tăng kè, mà là kiến tạo toàn bộ hệ thống thoát nước và cấu trúc sườn. Cần tổ chức thoát nước từ đỉnh xuống chân: rãnh đỉnh triệt dòng, rãnh chân có tiêu năng giảm tốc, cống hộp đủ khẩu độ, tuyến thoát ngang nội sườn để giảm áp lực thấm. Sườn phải được gia cố bằng lưới địa kỹ thuật hoặc lưới bê tông ô cỏ, kết hợp cảm biến và đo lường tiên tiến để thiết lập ngưỡng đóng đường sớm. Những đoạn từng sạt lún cần đổi tuyến hoặc xây hầm để ổn định lâu dài.
Cuối cùng, mọi giải pháp đều cần nền tài chính bền vững. Ngân sách nhà nước là nền tảng, nhưng trái phiếu xanh, hợp tác công-tư và các quỹ quốc tế giúp tạo thêm dòng vốn lớn, ổn định. Đặc biệt, cơ chế và thị trường tín chỉ carbon đang hình thành là cơ hội: rừng phòng hộ trồng mới có thể bán tín chỉ cho các doanh nghiệp cần để cân bằng phát thải, tạo nguồn thu quay vòng lại cho trồng và bảo vệ rừng.
Khi hạ tầng, sinh thái và cộng đồng được lồng ghép theo trình tự cấp cứu - trung hạn - dài hạn, những cung đường đèo mới có cơ hội thoát khỏi vòng lặp sạt lở. Không phải bằng may mắn, mà bằng khoa học, thiết kế và tầm nhìn.
Khi biết gieo lại rừng, đưa dần đường khỏi những sườn núi đã quá mệt mỏi và quản trị rủi ro bằng khoa học công nghệ, chúng ta không chỉ chữa lành những con đèo hỏng, mà còn gieo lại tương lai bền vững sống còn cho miền Trung.
Tô Kiên